Công cụ tính giá trị R cách nhiệt — Giá trị R cụm kết cấu so với vùng khí hậu
Chồng bao nhiêu lớp cách nhiệt thực tế có trong cụm kết cấu của bạn — chọn loại vật liệu và độ dày cho từng lớp — rồi cộng dồn thành tổng giá trị R, sau đó so sánh tổng đó với khuyến nghị về vùng khí hậu của DOE Hoa Kỳ dành cho mái, tường và sàn để nhận kết luận rõ ràng: đạt hay thấp hơn mức khuyến nghị.
🔒 Được xử lý hoàn toàn trong trình duyệt của bạn — không có nội dung nào bạn nhập ở đây được tải lên.
Kết quả
Giá trị R đo khả năng chống dòng nhiệt, và các giá trị chống nhiệt được sắp xếp nối tiếp nhau — giống như các lớp cách nhiệt chồng lên nhau trên mái hoặc trong khoang tường — chỉ đơn giản cộng dồn lại: tổng giá trị R của cụm kết cấu là tổng giá trị R của từng lớp, và giá trị R của mỗi lớp là con số R trên mỗi inch đã công bố của nó nhân với độ dày tính bằng inch. Đó là toàn bộ phép tính mà công cụ này thực hiện, nhưng con số vật liệu mà nó nhân lên mới là điều quan trọng: tấm sợi thủy tinh, sợi thủy tinh thổi rời, cellulose, tấm xốp cứng XPS và polyiso, cùng xốp phun ô mở hoặc ô kín đều có mức cách nhiệt trên mỗi inch khác biệt rõ rệt, và công cụ này sử dụng một giá trị đại diện thường được trích dẫn cho mỗi loại — ví dụ khoảng 3,2 trên mỗi inch đối với tấm sợi thủy tinh so với khoảng 6,2 trên mỗi inch đối với xốp polyiso, gần gấp đôi cho cùng một độ dày. Tùy chọn nhập giá trị tùy chỉnh cũng được cung cấp nếu bảng dữ liệu của sản phẩm bạn ghi một con số chính xác khác với giá trị đại diện được dùng ở đây.
Biết tổng giá trị R của bạn chỉ có ý nghĩa khi so với một mục tiêu, vì vậy công cụ này so sánh nó với một bảng tham chiếu nhỏ được xây dựng từ hướng dẫn về vùng khí hậu đã được công bố của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ — cùng bản đồ 8 vùng (từ vùng 1 có khí hậu nóng ẩm như Miami đến vùng 8 cận Bắc Cực như Fairbanks, Alaska) mà các quy chuẩn xây dựng Hoa Kỳ dùng để đặt ra các mức cách nhiệt khuyến nghị cho mái, tường và sàn. Hướng dẫn được DOE công bố thể hiện dưới dạng các khoảng giá trị thay đổi thêm tùy theo chi tiết kết cấu, chẳng hạn như khung là gỗ hay thép, vì vậy công cụ này chọn một giá trị khuyến nghị đại diện cho mỗi vùng và ứng dụng để đưa ra kết luận rõ ràng là đạt hay thấp hơn, thay vì cố mô phỏng đầy đủ mọi nhánh của hướng dẫn.
Có hai giới hạn trung thực đáng được nêu rõ ràng. Thứ nhất, các con số R trên mỗi inch của vật liệu được dùng ở đây là những giá trị đại diện đơn lẻ được rút ra từ các khoảng giá trị đã công bố thường được trích dẫn — sản phẩm thực tế thay đổi theo nhà sản xuất và mật độ, vì vậy bảng dữ liệu của chính sản phẩm mới là cơ sở chính xác khi nó khác với con số được dùng ở đây. Thứ hai, và quan trọng hơn, một cụm tường hoặc trần thực tế sẽ mất đi một phần giá trị R tính toán được vì hiện tượng cầu nhiệt: nhiệt truyền qua các thanh gỗ hoặc thép đặc và xà gỗ dễ hơn là qua phần cách nhiệt giữa chúng, vì vậy giá trị R thực tế của tường sẽ thấp hơn đôi chút so với phép tổng đơn giản của các lớp cách nhiệt — các kỹ sư gọi đây là sự khác biệt giữa 'giá trị R khoang' và 'giá trị R toàn tường'. Công cụ này tính toán tổng lớp/khoang đơn giản, bước đầu vẫn phù hợp để ước tính khối lượng công việc cách nhiệt, nhưng nó không thay thế được một phép tính cầu nhiệt đầy đủ trong các dự án mô phỏng năng lượng quan trọng. Mọi thứ ở đây chạy cục bộ trên trình duyệt của bạn — không có gì bạn nhập bị tải lên hay lưu trữ.